Nhiều người khi tìm hiểu về hà thủ ô trắng và hà thủ ô đỏ thường thắc mắc hai loại này có gì khác nhau, công dụng có giống nhau hay không và loại nào thường được sử dụng phổ biến hơn.
Nếu chỉ quan sát bên ngoài, rất khó để phân biệt chính xác hà thủ ô trắng và hà thủ ô đỏ. Cùng Thảo Dược Đức Thiện tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm, sự khác nhau, công dụng cũng như cách chế biến hai loại hà thủ ô này.
Hà thủ ô đỏ còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như dạ hợp, khua lình theo cách gọi của người Thái, dạ giao đằng, địa tinh, mằn năng ón theo cách gọi của đồng bào Thổ.
Tên khoa học của hà thủ ô đỏ là Polygonum multiflorum Thunb, thuộc họ Rau răm.
Đây là loại hà thủ ô được sử dụng phổ biến và thường được nhắc đến với tên gọi xích thủ ô. Trong Đông Y, hà thủ ô đỏ thường được chế biến trước khi sử dụng nhằm phù hợp với mục đích sử dụng và hạn chế những vấn đề không mong muốn khi dùng củ sống.
Hà thủ ô trắng được biết đến muộn hơn và tên gọi này không hoàn toàn chỉ một loài thực vật duy nhất. Tại các khu vực khác nhau, hà thủ ô trắng có thể được khai thác từ rễ hoặc củ của những loài thực vật thuộc các chi khác nhau.
Tại Việt Nam, hà thủ ô trắng thường được khai thác từ rễ hoặc củ của cây củ vú bò, còn được gọi là cây sừng bò, dây sữa bò. Tên khoa học của loài cây này là Streptocaulon juventas Merr, thuộc họ Thiên lý, tên khoa học là Asclepiadaceae.
Tại Trung Quốc, hà thủ ô trắng còn được gọi là bạch thủ ô, thái sơn hà thủ ô, hòa thượng ô, thái sơn bạch hà thủ ô. Loại này được lấy từ rễ hoặc củ của cây ngưu bì tiêu, tên khoa học Cymanchum bungei Decne, cũng thuộc họ Thiên lý.
Như vậy, có thể thấy hà thủ ô trắng ở Việt Nam và Trung Quốc có thể là phần rễ củ của những loài thực vật thuộc các chi khác nhau. Đây cũng là lý do việc nhận biết đúng nguồn nguyên liệu là điều cần quan tâm khi lựa chọn và sử dụng hà thủ ô.
Nếu chỉ nhìn bên ngoài, hà thủ ô trắng và hà thủ ô đỏ có thể khá giống nhau nên không phải lúc nào cũng dễ nhận biết. Một cách thường được sử dụng để quan sát là thái lát phần củ.
Hà thủ ô đỏ sau khi thái thường có phần thịt củ mang màu đỏ nâu hoặc nâu đỏ, bên trong có các đường vân đặc trưng. Trong khi đó, hà thủ ô trắng thường có phần thịt màu trắng hoặc trắng ngà.
Ngoài màu sắc phần thịt củ, nguồn gốc cây, hình dáng củ và đặc điểm nguyên liệu cũng là những yếu tố cần được xem xét khi phân biệt. Vì vậy, nếu không có kinh nghiệm nhận biết dược liệu, chỉ dựa vào màu sắc bên ngoài có thể chưa đủ để xác định chính xác loại hà thủ ô.

Hà thủ ô đỏ có phần thịt màu đỏ nâu với đường vân đặc trưng, hà thủ ô trắng có phần thịt màu trắng ngà.
Hà thủ ô trắng và hà thủ ô đỏ có một số điểm tương đồng về cách sử dụng trong Đông Y. Cả hai đều được nhắc đến với công dụng bổ tinh huyết, thường được sử dụng trong các trường hợp cơ thể suy nhược, tinh huyết hư suy, hoa mắt chóng mặt, lưng gối yếu mỏi, tai ù.
Tuy nhiên, theo quan niệm Đông Y, hà thủ ô trắng có tính tương đối bình hòa và khả năng tư bổ được đánh giá là nhẹ hơn so với hà thủ ô đỏ.
Hà thủ ô đỏ thường được xem là chính vị và được sử dụng phổ biến hơn trong các cách sử dụng và phương pháp chế biến truyền thống.
Có thể hiểu đơn giản, hà thủ ô đỏ thường được sử dụng phổ biến hơn và được xem là chính vị, còn hà thủ ô trắng có cách sử dụng tương tự ở một số phương diện nhưng mức độ tư bổ thường được đánh giá nhẹ hơn.
Do đó, không nên chỉ dựa vào tên gọi trắng hay đỏ để lựa chọn. Nguồn gốc, chất lượng dược liệu và cách chế biến cũng là những yếu tố rất quan trọng.
Hà thủ ô có thể được sử dụng ở dạng tươi hoặc sau khi chế biến. Tuy nhiên, hai dạng này có cách sử dụng khác nhau.
Theo kinh nghiệm sử dụng dân gian và Đông Y, hà thủ ô tươi thường được nhắc đến trong các trường hợp như lở ngứa, sưng đau, tràng nhạc, đại tiện táo bón, sốt rét kéo dài.
Trong khi đó, hà thủ ô chế thường được sử dụng với mục đích bồi bổ, đặc biệt trong các trường hợp cơ thể gầy yếu, tinh suy huyết thiểu, da thịt xanh xao vàng vọt, mắt hoa, tai ù, đầu choáng, râu tóc bạc sớm, đau lưng mỏi gối.
Điểm cần lưu ý là hà thủ ô sống có thể gây ra các vấn đề về tiêu hóa như tiêu chảy hoặc rối loạn tiêu hóa ở một số người. Vì vậy, hà thủ ô đỏ thường được chế biến trước khi sử dụng theo phương pháp truyền thống.
Một trong những phương pháp chế biến hà thủ ô phổ biến theo cách truyền thống là chế với đỗ đen. Các bước thực hiện có thể tiến hành như sau:
Theo phương pháp chế biến Đông Y cầu kỳ hơn còn có cách cửu chưng cửu sái, tức là tiến hành nấu và phơi hà thủ ô với nước đỗ đen nhiều lần, thường là 9 lần.
Nếu sử dụng hà thủ ô để ngâm rượu, thông thường nên lựa chọn hà thủ ô đã qua chế biến thay vì sử dụng trực tiếp củ sống.
Một công thức được lưu truyền là sử dụng 1kg hà thủ ô, 100g đỗ đen xanh lòng đã rang thơm và 3 đến 5 lít rượu nếp khoảng 40 độ. Hà thủ ô có thể được sơ chế và chế biến với nước vo gạo, sau đó kết hợp cùng đỗ đen trước khi ngâm.
Tuy nhiên, ngâm rượu thảo dược không đồng nghĩa với việc phù hợp với tất cả mọi người. Người đang sử dụng thuốc, có bệnh lý nền hoặc có tình trạng sức khỏe đặc biệt nên tham khảo ý kiến chuyên môn trước khi sử dụng.
Trong Đông Y, hà thủ ô có thể được phối hợp với những vị dược liệu khác tùy theo từng thể trạng và mục đích sử dụng.
Với những trường hợp huyết kém và cần bổ huyết, các tài liệu Đông Y có thể phối hợp hà thủ ô cùng đương quy, thục địa, bạch thược.
Với người có biểu hiện khí hư, ăn uống kém hoặc thường xuyên vã mồ hôi, có thể phối hợp cùng những vị như hoàng kỳ, nhân sâm.
Đối với những trường hợp được Đông Y quy về can thận kém, âm tinh khuy tổn, thường có biểu hiện râu tóc bạc sớm, đau lưng mỏi gối, choáng đầu, hoa mắt, nặng tai, tai ù, các vị như câu kỷ tử, bổ cốt chi, thỏ ty tử cũng có thể được sử dụng phối hợp tùy theo từng trường hợp.
Lưu ý: Việc phối hợp nhiều loại dược liệu không nên thực hiện tùy tiện. Mỗi người có thể có thể trạng, nhu cầu và tình trạng sức khỏe khác nhau. Đặc biệt, nếu đang dùng thuốc hoặc có vấn đề sức khỏe cần theo dõi, nên hỏi ý kiến bác sĩ hoặc người có chuyên môn về y học cổ truyền trước khi sử dụng.
Hà thủ ô trắng và hà thủ ô đỏ có nhiều điểm tương đồng nhưng không phải là hai loại hoàn toàn giống nhau.
Hà thủ ô đỏ được xem là chính vị và được sử dụng phổ biến hơn trong Đông Y. Trong khi đó, hà thủ ô trắng có nguồn gốc thực vật khác và thường được đánh giá có tác dụng tư bổ nhẹ hơn.
Quan trọng nhất khi lựa chọn hà thủ ô là cần xác định đúng loại, nguồn gốc nguyên liệu và tình trạng đã được sơ chế hay chế biến hay chưa.
Nếu bạn đang tìm nguồn hà thủ ô đúng loại, đã chế biến đúng cách và rõ nguồn gốc, hãy liên hệ ngay với Thảo Dược Đức Thiện để được tư vấn.
Xem thêm các sản phẩm khác Tại đây
Website: thaoduocducthien.com
#hathuotrang #hathuodo #phanbiethathuo #hathuochebien #ngamruouhathuo #thaoduocducthien